Trong bối cảnh hiện tại của ngành tôn trong nước đang gặp nhiều thách thức hơn là những cơ hội khi nghĩ về tương lai.

Nguồn cung vượt cầu

Giai đoạn 2013 - 2018 từng chứng kiến sự tăng trưởng mạnh mẽ của ngành thép trong nước, đặc biệt là lĩnh vực sản xuất tôn mạ.
Mức tiêu thụ tôn trong nước đạt tốc độ tăng trưởng kép hàng năm lên tới 20,5% và đứng đầu nhóm các sản phẩm thép. Ðặc biệt, trong năm 2016, tốc độ tăng trưởng tiêu thụ tôn của cả nước đạt tới 32,1%.
Ðiều này đã mở ra một năm kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp tôn trong nước.
Việc thị trường tiêu thụ thuận lợi khiến các doanh nghiệp ồ ạt mở rộng đầu tư, tăng công suất trong giai đoạn sau đó. Tới cuối năm 2018, 6 doanh nghiệp đứng đầu chiếm tổng cộng 83% thị phần của toàn ngành, với tổng công suất đạt gần 5 triệu tấn.
Trong khi đó, nhu cầu tiêu thụ lúc bấy giờ cũng chỉ đạt 3,8 triệu tấn. Sang năm 2019, tình hình trở nên khó khăn hơn, tiêu thụ toàn ngành giảm 2,1%. Ðây cũng là năm đầu tiên chứng kiến mức tiêu thụ toàn ngành tăng trưởng âm trong vòng 10 năm trở lại đây.
Tốc độ hấp thụ của thị trường không theo kịp với tốc độ gia tăng công suất khiến các nhà máy chỉ huy động công suất trung bình khoảng 65% so với tổng công suất thiết kế. Thậm chí, nhiều nhà máy phải đóng cửa hoặc chuyển nhượng để duy trì dòng tiền cho doanh nghiệp. 

Chính sách bảo hộ ngành thép trên thế giới khiến xuất khẩu tôn trong nước gặp khó khăn

Ngoài nhu cầu trong nước yếu đi, một nguyên nhân khác khiến tiêu thụ tôn cả nước trong năm 2019 tăng trưởng âm là do sự chậm lại từ thị trường xuất khẩu. Nguyên nhân chính đến từ các chính sách bảo hộ thương mại trên toàn thế giới.
Từ đầu 2019 đến nay, tôn mạ Việt Nam liên tiếp rơi vào các vụ kiện và điều tra tự vệ thương mại lớn. Một số nước tại thị trường chủ lực Ðông Nam Á đã điều tra và áp thuế đối với sản phẩm của Việt Nam.
Tháng 09, Malaysia sẽ áp biên độ phá giá từ 3,7-20,13% đối với thép cuộn cán nguội và thép không hợp kim xuất khẩu từ Việt Nam. Trong khi Indonesia quyết định khởi xướng điều tra chống bán phá giá với tôn mạ trong nước.
Gần đây là nhất là cuối 2019, một trong những thị trường xuất khẩu tôn chủ lực của Việt Nam là Mỹ chính thức áp thuế hơn 450% với các sản phẩm thép Việt Nam có nguồn gốc xuất xứ từ Trung Quốc và Hàn Quốc, trong đó chủ yếu là các mặt hàng tôn mạ.
Những vụ kiện chống phá giá khiến xuất khẩu tôn mạ cả nước năm 2019 chỉ đạt 1,41 triệu tấn, giảm 19,42% so với cùng kỳ. Con số này chiếm 37,64% tổng lượng tiêu thụ và giảm so mức 45,7% của năm 2018.

Biên lợi nhuận phụ thuộc vào giá nguyên liệu

Trước năm 2017, Việt Nam chưa có doanh nghiệp nào sản xuất được nguyên liệu đầu vào của ngành tôn và ống thép là thép cuộn cán nóng (HRC). Nguồn nguyên liệu phục vụ quá trình sản xuất tôn trong nước chủ yếu nhập khẩu từ thị trường Trung Quốc và một số nước khác trên thế giới như Mỹ, Nhật, Nga…
Sau năm 2017, Nhà máy Formosa Hà Tĩnh chính thức đi vào hoạt động với nguồn cung HRC cho thị trường trong nước đạt khoảng 4 triệu tấn mỗi năm, đáp ứng được 50% nhu cầu tiêu thụ của cả nước. Góp phần giảm phụ thuộc vào nguồn HRC nhập khẩu, giúp các doanh nghiệp tránh được một số rào cản thương mại về nguồn gốc xuất xứ.
Tuy nhiên, chi phí nguyên vật liệu chiếm tới hơn 80% chi phí sản xuất và vẫn phải phụ thuộc vào 50% nguồn cung nhập khẩu nên biến động giá HRC thế giới sẽ tác động mạnh đến biên lợi nhuận của các doanh nghiệp sản xuất tôn.

Dự án Dung Quất của Hòa Phát sẽ thay đổi cục diện ngành tôn trong nước

Ngành sản xuất tôn mạ là khâu cuối cùng của toàn bộ chuỗi giá trị ngành thép. Theo đó, các doanh nghiệp sản xuất tôn sẽ nhập nguyên liệu đầu vào là thép cuộn cán nóng hoặc cán nguội, sau đó cán lại, gia công và cắt thành tôn.
Tuy nhiên, tình hình sẽ thay đổi trong năm 2020 khi dự án Dung Quất giai đoạn II với công suất 2 triệu tấn HRC/năm của CTCP Tập đoàn Hòa Phát đi vào hoạt động.
Với Dung Quất, Hòa Phát sẽ là doanh nghiệp đầu tiên của Việt Nam sản xuất tôn tự chủ được nguồn nguyên liệu đầu vào. Ðiều này sẽ đem lại lợi thế lớn về chi phí sản xuất cho tập đoàn so với việc nhập khẩu hoặc thu mua HRC từ nguồn bên ngoài.
Bên cạnh sức ép mà Hòa Phát có thể đem lại trong tương lai, thì việc gia tăng nguồn cung HRC cũng sẽ đem lại một số lợi thế nhất định cho các doanh nghiệp sản xuất tôn trong nước.
Thứ nhất là ngành tôn sẽ giảm sự phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu bên ngoài, giúp giá nguyên vật liệu ít bị biến động hơn.
Sau cùng là bài toán về bảo hộ thương mại được gỡ một phần khi các doanh nghiệp chứng minh nguồn gốc xuất xứ là đến từ trong nước.
GLK