Dù phải đối mặt với nhiều khó khăn như thị trường xuất khẩu không thuận lợi, sức tiêu thụ nội địa và giá thép giảm, Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp ngành thép vẫn nỗ lực vượt khó để duy trì và thúc đẩy sản xuất.

Trước đó, hơn một tuần, Thép Vina Kyoei (VKS) đã thông báo rằng, công ty đã cán mốc sản xuất đạt 10 triệu tấn. Tính từ đầu năm đến nay, VKS đã sản xuất 343 ngàn tấn thép. Trong đó, xuất khẩu sang Campuchia được 48 ngàn tấn, tiêu thụ trong nước 232 ngàn tấn. Nhờ vậy, sản lượng thép tồn kho hiện khoảng 63 ngàn tấn.  
Với Tập đoàn Hoa Sen thì đầu tháng 06 cũng đã hoàn tất xuất khẩu lô hàng 50 ngàn tấn tôn mạ đi châu Âu và châu Mỹ. Đặc biệt, trong quý 2/2020, giai đoạn cao điểm của dịch, sản lượng xuất khẩu vào châu Âu và châu Mỹ của Tập đoàn này tăng trưởng từ 127-318% so với cùng kỳ năm 2019. 
Đối với các doanh nghiệp khác như Thép Miền Nam sản xuất hơn 336 ngàn tấn thép thô, trong đó đã tiêu thụ hơn 90% sản lượng; Posco SS Vina sản xuất gần 178 ngàn tấn đã tiêu thụ hơn 80%, trong đó xuất khẩu đạt 50%; Thép Việt Nhật sản xuất 149 ngàn tấn, đã tiêu thụ hơn 80%...
Theo báo cáo mới nhất của Hiệp hội Thép Việt Nam, tính từ đầu năm đến nay, cả nước đã xuất khẩu hơn 815 ngàn tấn với kim ngạch 454 triệu USD. 
Theo những thông tin trên cho thấy ngành thép đã có sự phục hồi mạnh mẽ sau ảnh hưởng của dịch. Tuy nhiên, theo nhận định của Chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam, ngành thép vẫn còn rất nhiều thách thức phía trước. Trong bối cảnh dịch vẫn đang diễn biến phức tạp ở các nước trên thế giới, Việt Nam vẫn chưa thể tận dụng và đẩy mạnh xuất khẩu sang EU mà chỉ tập trung ở một số thị trường truyền thống và thị trường trong nước. Đặc biệt là xu hướng phòng vệ thương mại tiếp tục gia tăng khiến cho việc mở rộng thị trường rất khó khăn. Những yếu tố này làm gia tăng áp lực đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp thuần sản xuất phôi thép, thép cán, tôn mạ. 
Song song đó, việc Hiệp định thương mại tự do FTAEV được ký kết và có hiệu lực sẽ mở ra nhiều cơ hội mới cho các doanh nghiệp ngành thép. Do đó, đây là thời điểm mà các doanh nghiệp ngành thép cần nhanh chóng thay đổi tư duy, nhận diện đúng vai trò của mình để chủ động tiếp cận, tìm hiểu thông tin mà hai bên đã cam kết. Từ đó, vận dụng quy tắc xuất xứ một cách có hệ thống và hiệu quả. Mặt khác, doanh nghiệp cũng phải đáp ứng tốt các tiêu chuẩn và kỹ thuật đã cam kết; nắm rõ về khung pháp lý của thị trường và các rào cản kỹ thuật để chủ động hơn trong xuất khẩu.
GLK