Thực tế, thế giới đang thiếu cát trầm trọng, bởi cát hiện là tài nguyên thiên nhiên được tiêu thụ nhiều thứ 2 chỉ sau nước. Theo báo cáo của Liên hiệp Quốc, có đến 50 tỉ tấn cát được khai thác, nạo vét và đánh cắp mỗi năm nhằm thỏa cơn khát xây dựng hạ tầng của thế giới. Đáng nói là không phải cát nào cũng có thể sử dụng được.

Cơn khát cát trong ngành xây dựng thế giới
Ảnh minh họa

Trong khi cát sa mạc phần lớn vô dụng đối với con người vì chúng quá trơn, nhẵn, khó kết dính trong sản xuất bê tông thì cốt liệu (thuật ngữ chung chỉ đá nghiền, cát và sỏi) lại là con cưng của ngành vật liệu xây dựng bởi có bề mặt thô, góc cạnh và dễ bám dính. Do đó, loại cát này cũng được con người khai thác triệt để đến nỗi nó đang "bốc hơi" với tốc độ nhanh hơn rất nhiều so với tốc độ bồi đắp tự nhiên.

Nhu cầu khai thác cát căng thẳng đến mức trên thế giới, vô số lòng sông, bãi bồi ven sông và bãi biển... đã bị cào sạch, đất canh tác và rừng bị xé toạc để săn cát xây dựng hay cát silica có độ tinh khiết cao dùng trong sản xuất kính, các sản phẩm công nghệ cao như chip, tấm pin năng lượng mặt trời...
 
Cuộc chiến khai thác cát gay gắt đến nỗi ở nhiều nơi trên thế giới, các băng đảng tội phạm đã nhảy vào khai thác, buôn lậu cát. Tại không ít nơi ở châu Mỹ Latinh và châu Phi, theo các tổ chức nhân quyền, trẻ em bị bắt làm nô lệ tại các mỏ cát. Những vụ ám sát, giết người cũng dễ bùng nổ liên quan đến cuộc chiến giành cát, đặc biệt tại các quốc gia kém phát triển và đang phát triển, những nơi có chế tài lỏng lẻo.
 
Nguyên nhân chính cho cuộc khủng hoảng cát là tốc độ đô thị hóa quá nhanh. Mỗi năm dân số thế giới gia tăng, trong khi ngày càng nhiều người di chuyển từ nông thôn vào đô thị, đặc biệt tại các quốc gia đang phát triển. Khắp châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh, các thành phố đang mở rộng với tốc độ chưa từng có. Số người sống ở đô thị đã hơn gấp 4 lần kể từ năm 1950 lên khoảng 4,2 tỉ người vào năm 2018. Liên hiệp Quốc dự đoán khoảng 2,5 tỉ người sẽ trở thành cư dân đô thị trong 3 thập niên tới. Châu Á chiếm đến 54% dân số đô thị, theo sau là châu Âu (13%) và châu Phi (13%).
 
Tại Ấn Độ, lượng cát xây dựng sử dụng hằng năm đã hơn gấp 3 lần kể từ năm 2000 và vẫn tăng rất nhanh. Không chỉ phục vụ nhu cầu xây dựng hạ tầng, từ California cho đến Hồng Kông, những con tàu khổng lồ đang hút hàng triệu tấn cát từ đáy biển mỗi năm để bồi đắp các vùng duyên hải lấn biển. Trung Quốc đã mở rộng bờ biển thêm hằng trăm dặm và xây dựng những hòn đảo để làm các khu resort sang trọng.
 
Ở phương diện này, Singapore là quốc gia “tích cực” nhất, chủ yếu nhập cát từ các nước khác. Kể từ khi giành độc lập cách đây hơn 50 năm, diện tích của Singapore đã bành trướng gần 25%, từ 580km2 lên tới gần 725km2 vào năm 2018 và dự kiến sẽ đạt gần 777km2 vào năm 2030. Singapore đã nhập khẩu 64 triệu tấn cát từ Malaysia vào năm 2018, chiếm hơn 97% tổng lượng cát nhập khẩu. Tuy nhiên, Malaysia đã cấm xuất khẩu cát sang Singapore vào năm ngoái. Không chỉ Malaysia, một số quốc gia khác cũng đã cấm hoặc hạn chế xuất khẩu cát sang Singapore, trong đó có Indonesia, Việt Nam, Campuchia.

Những hệ lụy khôn lường

Việc khai thác cát quá mức đã và đang hủy hoại hệ sinh thái, môi trường sống của nhiều loài động thực vật, gây ra ô nhiễm, ngập lụt, giảm nguồn nước ngầm... Sự tàn phá của cơn bão Harvey năm 2017, với mức thiệt hại hơn 125 tỉ USD do lũ lụt, có phần đóng góp không nhỏ từ nạn khai thác cát ở sông San Jacinto. Tại Indonesia, tình trạng khai thác cát vẫn tiếp tục tăng dù quốc gia này đã ban lệnh cấm. Việc nạo vét đã đe dọa sự tồn tại của khoảng 80 hòn đảo Indonesia, theo The Guardian. Khoảng 24 hòn đảo Indnonesia được báo cáo là đã biến mất do kết quả của việc khai thác cát, theo số liệu của Liên hiệp Quốc.
 
Việc khai thác cát sông cũng đóng góp vào sự biến mất từ từ của vùng đồng bằng sông Mekong. Theo các nhà nghiên cứu từ chương trình Greater Mekong Programme thuộc Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (WWF), với tốc độ xói mòn tự nhiên của vùng đồng bằng sông Mekong cùng với tốc độ khai thác cát hiện nay, gần 50% khu vực này sẽ bị biến mất vào cuối thế kỷ này. Việc nạo vét sông Mekong và hệ thống sông ngòi ở Campuchia và Lào khiến cho bờ sông sụp lún, kéo theo ruộng lúa, hoa màu và nhà cửa. Điều tương tự cũng xảy ra dọc con sông Ayeyarwady tại Myanmar.
 
Trước mối đe dọa từ cuộc khủng hoảng cát, giới chuyên gia khuyến cáo, quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên quan trọng này là một phần thiết yếu trong công cuộc phát triển kinh tế toàn cầu và tăng trưởng bền vững. Nếu không vào cuộc một cách quyết liệt, tác động của cuộc khủng hoảng cát sẽ càng nghiêm trọng, đặc biệt khi cộng hưởng với tác động của biến đổi khí hậu.
 
Liên hiệp Quốc cũng đã báo động về cuộc khủng hoảng này khi ước tính 2/3 dân số thế giới sẽ sống trong các đô thị vào năm 2050. Xây dựng cơ sở hạ tầng cho làn sóng cư dân đô thị mới này sẽ càng đẩy mạnh nhu cầu về cát. Nếu không quản lý hiệu quả, sẽ không đủ cát đáp ứng và chắc chắn xây dựng sẽ không chỉ là ngành duy nhất bị tác động.
 
Đó là chưa nói đến cát rất cần thiết trong công cuộc chống biến đổi khí hậu. Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC) dự đoán mực nước biển sẽ tăng gần 1m vào năm 2100 mà một trong những công cụ hiệu quả nhất để ngăn tác động của tình trạng nước biển dâng lại là cát.
 
Mặc cho những tác hại rất rõ ràng đến môi trường, an sinh xã hội của người dân và nền kinh tế toàn cầu nhưng phần lớn các quốc gia vẫn còn thiếu khung pháp lý để điều hành việc sử dụng và khai thác cát. Hợp tác quốc tế trong vấn đề này cũng rất mờ nhạt. Đây là điều đáng ngại. 
 
Vì thế, chính phủ các nước và các định chế quốc tế nên lập ra các thỏa thuận toàn cầu trong việc quản lý sử dụng và khai thác cát. Bước đầu tiên là cần lập ra một nhóm làm việc quốc tế tương tự như nhóm làm việc về nước của Liên hiệp Quốc. Mục đích là để các chính phủ và khu vực tư nhân hợp tác với nhau chặt chẽ hơn trong việc quản lý cát.
 
Cát là một bài toán nan giải, nhưng lại không thể không giải khi chứng kiến những tác động nghiêm trọng mà nạn khai thác cát quá mức đang gây ra cho nền kinh tế và xã hội. Đó là một cuộc chiến lâu dài và đầy cam go, không kém cuộc chiến chống biến đổi khí hậu. Chỉ nói đến việc ngăn hay giảm thiệt hại gây ra cho các dòng sông cũng đã đòi hỏi ngành xây dựng phải từ bỏ khai thác cát sông. Sự chuyển hướng xã hội như vậy cũng tương tự như những đòi hỏi đặt ra trong việc đối phó tình trạng biến đổi khí hậu, bắt buộc phải có những thay đổi rất lớn về cách cảm nhận về cát, về sông và về cả cách các thành phố được thiết kế và xây dựng

YN